Mức lương chủ hộ kinh doanh tự trả cho mình nên được tính từ lãi của tiệm trong mười hai tháng gần nhất, lấy những tháng yếu làm mốc chứ không lấy trung bình, rồi giữ phần chênh lệch trong tiệm làm đệm và xem lại mỗi quý. Cách này cho gia đình một khoản thu đều như người đi làm, trong khi tiệm vẫn có tiền chịu được mùa thấp điểm.
Bài không bàn chuyện có nên tự trả lương hay không; khi tiền nhà và tiền tiệm đã tách, lương tự trả gần như là cách duy nhất để tiền đi từ tiệm sang nhà một cách có trật tự. Câu hỏi ở đây là bao nhiêu và thay đổi khi nào. Mọi số trong bài là ví dụ giả định của một tiệm sửa xe máy nhỏ do hai vợ chồng đứng.
Bước một: dựng bảng lãi trước lương chủ của mười hai tháng
Lãi trước lương chủ là tiền tiệm còn lại sau khi trả hàng hoá, phụ tùng, mặt bằng, điện nước, công thợ phụ, các phí, nhưng trước khi chủ lấy tiền về nhà. Nếu chưa có sổ đủ mười hai tháng, ước lượng từ sao kê và sổ nhập hàng, chấp nhận sai số. Ví dụ giả định:
| Tháng | Lãi trước lương chủ | Ghi chú |
|---|---|---|
| 1 | 24 triệu | Trước Tết, sửa và thay dầu nhiều |
| 2 | 11 triệu | Nghỉ Tết gần hai tuần |
| 3 | 15 triệu | |
| 4 | 16 triệu | |
| 5 | 17 triệu | |
| 6 | 15 triệu | Mưa nhiều, khách ít ra đường |
| 7 | 14 triệu | |
| 8 | 16 triệu | |
| 9 | 18 triệu | Đầu năm học |
| 10 | 17 triệu | |
| 11 | 16 triệu | |
| 12 | 21 triệu | |
| Cả năm | 200 triệu | Trung bình khoảng 16,7 triệu/tháng |
Con số trung bình trông hấp dẫn, nhưng nếu trả lương theo trung bình thì tháng hai, tháng sáu, tháng bảy tiệm sẽ hụt. Điều cần nhìn là đáy: ba tháng thấp nhất trung bình khoảng 13,3 triệu.
Bước hai: chọn mức lương từ đáy, không từ đỉnh
Một cách chọn dễ dùng là lấy trung bình ba tháng thấp nhất, rồi trừ đi một khoảng an toàn khoảng một phần mười. Với ví dụ trên, mức lương tự trả khởi đầu khoảng 12 triệu mỗi tháng cho cả hai vợ chồng. Mức này hầu như tháng nào tiệm cũng trả được từ lãi của chính tháng đó, không phải đụng vào tiền đệm.
Nếu 12 triệu không đủ cho chi tiêu thiết yếu của gia đình, đó là thông tin quan trọng chứ không phải lý do để nâng lương cho vừa. Có ba hướng: giảm chi tiêu nhà, tăng lãi của tiệm, hoặc chấp nhận dùng tiền đệm có kế hoạch trong một số tháng. Lựa chọn nào cũng nên được nói rõ trong nhà, ghi ra, chứ không để tự trôi.
Vì sao lấy đáy mà không lấy trung bình? Vì chi tiêu gia đình phần lớn là cố định: tiền nhà, tiền học, tiền ăn không giảm theo tháng tiệm bán chậm. Một mức lương mà tháng nào tiệm cũng trả được biến sự lên xuống của doanh thu thành chuyện của tiệm, không phải chuyện của bữa cơm. Phần lên xuống được hấp thụ bởi tiền đệm, thứ được dựng ra đúng cho việc đó.
Một số chủ tiệm thích tách lương thành hai phần: phần cố định trả hằng tháng theo mức đáy, và phần thưởng trả mỗi quý từ tiền lời vượt mức. Cách này giữ được nhịp đều cho chi tiêu thường ngày, mà gia đình vẫn hưởng được những quý bán tốt.
Bước ba: phần chênh lệch đi đâu
Năm có lãi 200 triệu, lương cố định 12 triệu × 12 tháng = 144 triệu. Còn 56 triệu không phải tiền “dư”. Ví dụ giả định một cách chia, cần chỉnh theo từng tiệm:
| Lớp | Mục đích | Mức tham khảo trong ví dụ |
|---|---|---|
| Đệm của tiệm | Trả lương cho những tháng lãi dưới mức lương, sửa máy hỏng đột xuất | Giữ đủ khoảng hai tháng lương, tức 24 triệu |
| Thay thế thiết bị | Máy nén khí, máy hàn, dụng cụ sẽ hỏng theo năm | Khoảng 10 triệu mỗi năm |
| Tiền thuế, phí phải nộp | Để riêng theo nguyên lý, mức thật kiểm quy định hiện hành | Tách ra khi thu, không đợi cuối kỳ |
| Thưởng quý cho chủ | Phần vượt sau khi các lớp trên đã đủ | Phần còn lại, chia mỗi quý |
Thứ tự quan trọng hơn con số: đệm của tiệm đầy trước, rồi mới tới thưởng. Năm đầu áp dụng có thể chưa có thưởng quý nào, vì phải dồn tiền làm đệm. Từ năm thứ hai, khi đệm đã đủ, phần lớn chênh lệch có thể về nhà dưới dạng thưởng.
Bước bốn: lịch xem lại mỗi quý
Lương tự trả không nên đổi hằng tháng, nhưng cũng không nên đứng yên cả năm khi tiệm thay đổi. Mỗi quý ngồi một buổi ngắn, làm theo các bước:
- Cập nhật bảng lãi trước lương chủ, bỏ quý cũ nhất, thêm quý mới nhất, để lúc nào cũng có mười hai tháng gần nhất.
- Tính lại trung bình ba tháng thấp nhất. Nếu cao hơn mức lương hiện tại từ một phần tư trở lên, có cơ sở để nâng lương.
- Kiểm tiền đệm của tiệm. Đệm đủ thì chia thưởng quý; đệm thiếu thì dồn bổ sung trước.
- Nếu ba tháng thấp nhất đã thấp hơn mức lương hiện tại, đừng đợi: giảm lương từ quý sau, hoặc ghi rõ đang dùng đệm bao nhiêu tháng.
- Ghi một dòng kết luận vào sổ năm: mức lương mới, lý do, đệm hiện còn bao nhiêu tháng.
Nâng lương chậm, giảm lương nhanh. Nghe ngược với cảm xúc, nhưng đó là cách giữ cho tiệm không rơi vào cảnh tháng nào cũng phải xoay.
Khi thu nhập tiệm thay đổi lớn
Tiệm mới mở dưới một năm. Chưa có mười hai tháng số liệu. Có thể dùng lương bằng mức chi tiêu thiết yếu tối thiểu của nhà, trả từ tiền vốn đã để riêng cho giai đoạn đầu, và chấp nhận rằng đây là tiêu tiền vốn chứ không phải tiệm đã nuôi được nhà.
Mùa vụ rất lệch. Tiệm bán đồ Tết, đồ Trung thu, đồ đi học có thể làm ra nửa năm lãi trong hai tháng. Lúc đó lương đều hằng tháng càng cần thiết, và đệm phải đủ trả cho mọi tháng ngoài mùa.
Thêm một người làm hoặc mất một người làm. Chi phí cố định đổi thì lãi trước lương chủ đổi. Tính lại ngay bảng mười hai tháng với chi phí mới, đừng đợi cuối quý.
Chủ tiệm ốm hoặc phải nghỉ dài. Tiệm do chủ trực tiếp làm thì nghỉ là lãi rơi gần như về không. Đây là lúc đệm phát huy; nếu đệm chỉ đủ hai tháng mà kỳ nghỉ dự kiến dài hơn, cần tính trước với gia đình phần còn thiếu lấy từ đâu, thay vì để đến lúc đó mới xoay.
Một tháng lời đột biến. Tiền lời lớn bất ngờ (một đơn sỉ lớn, một hợp đồng sửa cả đội xe) nên đi vào đệm và thưởng quý, không nâng lương cố định theo một tháng.
Một năm áp dụng: lương, đệm và thưởng theo quý
Ví dụ giả định tiếp nối tiệm sửa xe ở trên, năm đầu tiên áp dụng mức lương cố định 12 triệu mỗi tháng, đệm mục tiêu 24 triệu, bắt đầu với đệm bằng không:
| Quý | Lãi trước lương chủ | Lương đã trả | Chênh lệch | Đi đâu | Đệm cuối quý |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 50 triệu | 36 triệu | +14 triệu | Toàn bộ vào đệm (trừ phần thuế, phí để riêng) | khoảng 12 triệu |
| 2 | 48 triệu | 36 triệu | +12 triệu | Vào đệm | khoảng 22 triệu |
| 3 | 48 triệu | 36 triệu | +12 triệu | Bù đệm cho đủ, phần còn lại vào quỹ thay thiết bị | 24 triệu |
| 4 | 54 triệu | 36 triệu | +18 triệu | Đệm đã đủ: chia thưởng quý cho chủ, một phần vào quỹ thiết bị | 24 triệu |
Có hai điều đáng thấy trong bảng. Thứ nhất, gia đình chỉ nhận được thưởng ở quý cuối, nên ba quý đầu phải sống bằng mức lương đáy; nếu chuẩn bị tâm lý trước thì không ai thấy hụt hẫng. Thứ hai, tháng hai nghỉ Tết lãi chỉ 11 triệu, dưới mức lương, nhưng lương vẫn trả đủ vì phần dư của tháng một còn nằm lại trong tiệm. Đó chính là thứ mà cách tính này mua được: sự đều đặn cho chi tiêu nhà.
Sang năm thứ hai, bảng mười hai tháng có thêm số liệu thật. Nếu đáy ba tháng lên khoảng 15 triệu, có cơ sở nâng lương cố định lên mức mới, và mọi quý đều có thể chia thưởng vì đệm đã đầy.
Những sai lầm hay gặp khi tự trả lương
Phần lớn sai lầm không nằm ở phép tính mà ở cách giữ quy tắc trong những tháng khác thường:
- Nâng lương ngay sau một tháng đẹp. Một tháng bán chạy không làm thay đổi đáy; nâng lương theo đỉnh là cài sẵn một tháng hụt trong tương lai.
- Rút thêm “tạm” giữa tháng. Mỗi lần rút tạm không ghi là một lỗ nhỏ trên sổ, và sau vài tháng không còn ai biết lương thật là bao nhiêu.
- Coi đệm của tiệm là tiền nhà. Đệm sinh ra để trả lương những tháng yếu; dùng đệm mua sắm cho nhà nghĩa là tháng yếu tới sẽ không có gì đỡ.
- Quên tách tiền thuế, phí. Nếu không để riêng từ đầu, đến kỳ phải nộp sẽ lấy từ đệm hoặc từ lương, làm lệch cả hai.
- Không xem lại khi tiệm đã khác. Thuê thêm thợ, chuyển mặt bằng, đổi mặt hàng mà vẫn giữ mức lương cũ là dùng bản đồ của một cái tiệm không còn tồn tại.
Giới hạn của cách tính này
Lương tự trả là một công cụ quản lý tiền trong gia đình, không phải chế độ tiền lương theo luật lao động, và cũng không thay đổi cách tiệm phải kê khai hay nộp thuế. Phần thuế, phí và bảo hiểm của người tự kinh doanh cần kiểm theo quy định hiện hành hoặc hỏi người có chuyên môn.
Con số lương cũng không đo được hết giá trị công sức. Một tiệm trả cho hai vợ chồng 12 triệu cho sáu mươi giờ mỗi tuần mỗi người là một thông tin đáng suy nghĩ: chia ra mỗi giờ công được bao nhiêu, so với việc làm công ở ngoài thì sao, còn những giá trị khác như tự chủ thời gian, ở gần con thì đặt vào đâu. Con số giúp đặt câu hỏi, không trả lời thay. Và nếu đọc số làm cả nhà áp lực hơn, giảm việc đo xuống mức tối thiểu là một lựa chọn hợp lý.
Câu hỏi thường gặp
Lương tự trả có phải trả vào ngày cố định không?
Nên có. Ngày cố định giúp chi tiêu gia đình có nhịp, và giúp người chủ không rút tiền tuỳ hứng. Nhiều chủ tiệm chọn trả hai lần mỗi tháng, ngày đầu và ngày giữa tháng, để tiền nhà không dồn vào một lần rồi cạn sớm.
Nếu chỉ có một người đứng tiệm, người kia đi làm công thì sao?
Vẫn tính lương tự trả cho người đứng tiệm từ lãi của tiệm. Lương của người đi làm công là một nguồn thu khác của nhà. Tách như vậy mới thấy tiệm có thật sự góp được bao nhiêu, thay vì để lương người kia lặng lẽ bù cho tiệm.
Tiền đệm của tiệm nên để ở đâu?
Để riêng khỏi tiền quay vòng hằng ngày, ở chỗ rút được nhanh khi cần, ví dụ một tài khoản thanh toán riêng. Không nên để đệm vào những chỗ có rủi ro mất giá hay khó rút; đệm sinh ra là để có sẵn khi tiệm gặp tháng yếu.
Có nên tính lương theo tỷ lệ phần trăm doanh thu không?
Có thể, nhưng lương theo tỷ lệ doanh thu sẽ lên xuống theo từng tháng, tức là đưa sự bấp bênh của tiệm về thẳng chi tiêu nhà. Lương cố định theo mức đáy cộng thưởng quý thường dễ sống hơn với gia đình có chi phí cố định như học phí, tiền nhà.
Lãi trước lương chủ khác lãi thật của tiệm thế nào?
Lãi trước lương chủ chưa trừ công của chính người chủ. Lãi thật, theo nghĩa kinh tế, phải trừ thêm giá trị công sức đó. Một tiệm có lãi trước lương chủ dương vẫn có thể lỗ khi tính công chủ theo mức thuê người ngoài làm cùng việc.