Tỷ lệ để dành trên thu nhập bằng số tiền bạn thật sự giữ lại trong một khoảng thời gian chia cho thu nhập của cùng khoảng thời gian đó. Công thức đơn giản, nhưng cùng một người có thể ra 8, 12 hay 15 phần trăm tuỳ chọn mẫu số là tiền gộp hay tiền về tay, và tuỳ có tính khoản trả gốc nợ, quỹ khoản theo năm vào tử số hay không. Không cách nào sai tuyệt đối; sai là đổi cách tính giữa chừng hoặc chọn cách cho ra con số đẹp nhất.
Bài này đi qua từng lựa chọn trong phép tính, đề xuất một cách tính nhất quán cho người đi làm, cách đối chiếu tỷ lệ với số dư thật để bắt lỗi tự lừa, và cách đọc tỷ lệ theo mười hai tháng trượt thay vì từng tháng. Bài không bàn để dành bao nhiêu là đủ cho mục tiêu nào. Mọi số liệu là ví dụ giả định.
Mẫu số: tiền gộp hay tiền về tay
Mẫu số là thu nhập. Dùng thu nhập gộp, trước khi trừ bảo hiểm bắt buộc và thuế, cho tỷ lệ thấp hơn và so được với những tài liệu nước ngoài hay dùng thu nhập gộp. Dùng thu nhập về tay cho tỷ lệ cao hơn và gắn trực tiếp với số tiền bạn thật sự có quyền quyết định mỗi tháng.
Với người đi làm hưởng lương, đề xuất dùng thu nhập về tay. Lý do: phần chênh giữa gộp và về tay không nằm trong tay bạn, và ngân sách hằng tháng cũng lập trên tiền về tay. Dùng cùng một mẫu số cho cả ngân sách lẫn tỷ lệ để dành giúp các con số nói chuyện được với nhau.
Với người làm tự do hoặc tự kinh doanh, mẫu số khó hơn vì không có "lương". Cách gọn là dùng thu nhập sau khi trừ chi phí công việc và khoản để riêng cho thuế, phí, tức số tiền thật sự chuyển được sang tiền cá nhân. Nếu bạn đã tự trả lương cho mình, dùng con số lương tự trả đó.
Dù chọn cách nào, ghi lựa chọn ở đầu trang theo dõi. Một năm sau, khi so tỷ lệ của năm này với năm trước, bạn sẽ cần biết chắc mình đang so cùng một thứ.
Tử số: khoản nào được tính là để dành
Đây là chỗ dễ tự lừa nhất. Bảng dưới gợi ý cách xếp các khoản hay gây phân vân, kèm lý do.
| Khoản | Tính vào để dành? | Lý do |
|---|---|---|
| Tiền chuyển vào khoản đệm, tiền gửi | Có | Tiền được giữ lại cho tương lai, chưa có chủ cụ thể |
| Tiền góp quỹ khoản theo năm (Tết, học phí) | Không | Đây là chi tiêu đã hoãn lại, đã biết trước sẽ chi trong năm |
| Trả gốc khoản nợ đang có | Ghi riêng | Làm tài sản ròng tăng nhưng không tạo tiền dùng được; nên theo dõi thành một tỷ lệ riêng |
| Trả lãi khoản nợ | Không | Là chi phí, không giữ lại được gì |
| Bảo hiểm xã hội bắt buộc | Không, nếu dùng tiền về tay | Đã nằm ngoài mẫu số; tính vào sẽ đếm hai lần |
| Tiền còn dư cuối tháng chưa chuyển | Chỉ khi cuối kỳ vẫn còn | Dư hôm nay có thể bị tiêu ngày mai; đo bằng số dư thật cuối kỳ |
Dòng quỹ khoản theo năm là chỗ nhiều người tính vào để tỷ lệ trông cao hơn. Nhưng tiền Tết góp từ tháng 3 sẽ ra đi vào tháng 1; tính nó là để dành thì tháng 1 tỷ lệ sẽ âm nặng và cả năm trông như dao động thất thường. Tách nó ra, tỷ lệ để dành phản ánh đúng phần thật sự được giữ lại.
Ví dụ giả định: một người, ba con số
Một người đi làm, lương gộp 20 triệu, về tay 17,5 triệu mỗi tháng. Mỗi tháng chuyển 1,5 triệu vào khoản đệm, góp 0,8 triệu quỹ khoản theo năm, trả gốc trả góp 0,7 triệu. Ba cách tính cho ba con số:
| Cách tính | Tử số (triệu) | Mẫu số (triệu) | Tỷ lệ |
|---|---|---|---|
| Chỉ khoản đệm, trên tiền gộp | 1,5 | 20,0 | 7,5% |
| Chỉ khoản đệm, trên tiền về tay | 1,5 | 17,5 | Khoảng 8,6% |
| Đệm cộng quỹ năm cộng trả gốc, trên tiền về tay | 3,0 | 17,5 | Khoảng 17,1% |
Con số thứ ba gấp đôi con số thứ hai, dù cùng một người, cùng một tháng. Nếu một tháng bạn tính theo cách hai, tháng sau theo cách ba, bạn sẽ "cải thiện" tỷ lệ để dành gấp đôi mà không đổi gì trong đời sống. Đây đúng là kiểu đổi định nghĩa giữa chừng mà các nhà nghiên cứu về chỉ số như Goodhart và Campbell cảnh báo: thước đo vẫn tăng, thực tế đứng yên.
Đề xuất cho người đi làm: dùng cách hai làm tỷ lệ để dành chính, và theo dõi riêng tỷ lệ trả gốc nợ. Hai con số tách nhau cho bức tranh rõ hơn một con số gộp.
Đối chiếu với số dư thật: tỷ lệ trên giấy và tỷ lệ thật
Tỷ lệ tính từ các lệnh chuyển tiền là tỷ lệ "trên giấy". Nó có thể cao trong khi tổng tiền của bạn không tăng, vì những khoản rút ra lặng lẽ: rút khoản đệm cho một chuyến đi, nợ thẻ tăng lên để bù chi tiêu. Cách bắt lỗi là tính một tỷ lệ thứ hai từ số dư thật.
Tỷ lệ để dành thật trong một quý bằng thay đổi của tổng tiền dùng được và tiền để riêng (không tính quỹ khoản theo năm), cộng phần nợ tiêu dùng đã giảm, chia cho thu nhập của quý. Nếu nợ thẻ tăng, phần tăng đó trừ vào tử số. Ví dụ giả định: trong quý, lệnh chuyển vào khoản đệm là 4,5 triệu, nhưng tổng tiền dùng được và tiền để riêng chỉ tăng 2,8 triệu, còn nợ thẻ tăng 0,7 triệu. Tỷ lệ thật là 2,8 trừ 0,7, bằng 2,1 triệu, chia 52,5 triệu thu nhập quý, khoảng 4 phần trăm, chưa bằng một nửa tỷ lệ trên giấy là khoảng 8,6 phần trăm.
Chênh lệch lớn giữa hai tỷ lệ là thông tin quý. Nó cho biết có một dòng tiền đang chạy ngược với ý định để dành: chi tiêu bị bù bằng thẻ, hay khoản đệm bị rút cho việc thường. Không cần tính tỷ lệ thật mỗi tháng; mỗi quý một lần cùng lúc cập nhật bảng tài sản và nợ là đủ.
Đọc theo mười hai tháng trượt, không theo từng tháng
Tỷ lệ để dành tháng nào cũng dao động: tháng có thưởng cao, tháng có đám cưới thấp. Đọc từng tháng dễ dẫn đến phản ứng thái quá, như tự trách vì một tháng bằng không hoặc nới tay vì một tháng cao. Cách đọc ổn định hơn là mười hai tháng trượt: mỗi tháng, cộng tử số và mẫu số của mười hai tháng gần nhất rồi chia.
Con số mười hai tháng trượt thay đổi chậm, và chính vì thế nó có ích. Khi nó đi xuống ba tháng liền, đó là một chiều hướng thật chứ không phải nhiễu. Khi nó đi lên đều, bạn biết thay đổi gần đây trong cách tiêu đã có tác dụng. Thay đổi một quy tắc chi tiêu thường cần vài tháng mới hiện lên trên đường mười hai tháng; đừng kết luận sau bốn tuần.
Một chỉ số phụ đáng theo dõi là tỷ lệ để dành của phần tăng thêm. Khi thu nhập tăng, ví dụ giả định từ 17,5 lên 19,5 triệu về tay, bao nhiêu phần trăm của 2 triệu tăng thêm đó được để dành? Nhiều người thấy con số này rất thấp, vì chi tiêu lớn lên lấp đầy phần tăng trong vài tháng. Quyết định trước tỷ lệ cho phần tăng, ví dụ một nửa, trước khi tháng lương mới đến, dễ hơn nhiều so với kéo chi tiêu xuống sau đó.
Một trang theo dõi tỷ lệ để dành
Gom mọi thứ ở trên vào một trang mười hai dòng, mỗi tháng một dòng, mỗi quý thêm một dòng đối chiếu. Ví dụ giả định ba tháng cuối năm của người đi làm trong bài, đơn vị triệu đồng:
| Tháng | Thu nhập về tay | Chuyển vào đệm | Tỷ lệ tháng | Tỷ lệ mười hai tháng trượt | Trả gốc nợ |
|---|---|---|---|---|---|
| 10 | 17,5 | 1,5 | 8,6% | 7,9% | 0,7 |
| 11 | 17,5 | 1,0 | 5,7% | 7,8% | 0,7 |
| 12 | 23,5 | 4,0 | 17,0% | 8,6% | 0,7 |
| Đối chiếu quý 4 | 58,5 | Trên giấy 6,5 | Khoảng 11,1% | Thật: khoảng 9,4% | Nợ thẻ không tăng |
Tháng 12 có thưởng nên tỷ lệ tháng vọt lên 17 phần trăm, nhưng đường mười hai tháng chỉ nhích từ 7,8 lên 8,6. Đó là cách đọc đúng: một tháng tốt kéo đường trung bình lên một chút, không biến cả năm thành năm tốt. Dòng đối chiếu cuối quý cho thấy tỷ lệ thật khoảng 9,4 phần trăm, thấp hơn tỷ lệ trên giấy, do có một lần rút đệm 1 triệu cho sửa xe trong tháng 11. Khoảng chênh nhỏ, có nguyên nhân rõ, không đáng lo.
Trang này chiếm ít thời gian hơn ta tưởng: mỗi tháng ghi bốn ô, mỗi quý một dòng đối chiếu. Phần lớn số liệu đã có nếu bạn giữ ba con số kiểm tiền.
Giới hạn: tỷ lệ cao không phải lúc nào cũng tốt
Không có tỷ lệ để dành đúng cho mọi người. Người thu nhập thấp đang trang trải các khoản thiết yếu cho cả gia đình có thể có tỷ lệ gần không mà vẫn đang quản lý tiền rất tốt. Người trẻ đang trả một khoản nợ đắt có lý do để dồn tiền vào trả nợ thay vì để dành. So tỷ lệ của mình với tỷ lệ "nên có" trên mạng thường chỉ sinh ra cảm giác tội lỗi không dẫn đến việc gì.
Ép tỷ lệ lên cao bằng mọi giá cũng có cái giá. Một tỷ lệ 30 phần trăm đạt được nhờ cắt khám sức khoẻ định kỳ, bỏ bữa, hay nợ thẻ tăng dần không phải tỷ lệ 30 phần trăm thật. Đó là lý do tỷ lệ thật đối chiếu với số dư quan trọng hơn tỷ lệ trên giấy.
Cuối cùng, để dành là phương tiện. Tỷ lệ cho bạn biết bạn đang giữ lại bao nhiêu, không cho biết giữ lại để làm gì. Câu hỏi để làm gì thuộc về kế hoạch của bạn; tỷ lệ chỉ là thước đo cho biết kế hoạch đang chạy hay không.
Câu hỏi thường gặp
Tỷ lệ để dành bao nhiêu phần trăm là tốt?
Không có một con số chung. Tuỳ thu nhập, người phụ thuộc, nợ đang có và mục tiêu của bạn. Thay vì so với một con số trên mạng, hãy theo dõi tỷ lệ của chính mình theo mười hai tháng trượt và xem nó có ổn định, có tăng dần khi thu nhập tăng hay không.
Trả gốc nợ có được tính là để dành không?
Trả gốc làm giảm nợ nên tài sản ròng tăng, nhưng không tạo ra tiền dùng được khi cần. Nên theo dõi hai tỷ lệ riêng: tỷ lệ để dành và tỷ lệ trả gốc nợ. Gộp chung dễ che đi việc bạn không có khoản đệm nào trong khi đang trả nợ.
Tiền góp chơi hụi, họ có được tính là để dành không?
Nên thận trọng. Hụi, họ là hình thức góp vốn xoay vòng giữa các cá nhân, có rủi ro vỡ hụi khi người cầm hụi hoặc thành viên không trả. Nếu có tham gia, nên ghi riêng như một khoản người khác đang giữ hộ, theo mức thu hồi thận trọng, không gộp vào tỷ lệ để dành chính.
Tháng có thưởng thì nên tính tỷ lệ thế nào?
Tính bình thường, thưởng nằm trong mẫu số và phần thưởng được để dành nằm trong tử số. Đường mười hai tháng trượt sẽ làm mềm tác động của một tháng thưởng. Nếu muốn, có thể tính thêm một tỷ lệ không có thưởng để biết nhịp đều hằng tháng.
Tỷ lệ trên giấy cao mà tiền không tăng là vì sao?
Thường do có dòng tiền chạy ngược: rút khoản đệm cho chi tiêu, nợ thẻ tăng, hoặc tiền quỹ có chủ bị tiêu vào việc khác. Tính tỷ lệ thật từ thay đổi số dư mỗi quý sẽ cho thấy khoảng chênh, và một tháng ghi chép chi tiết thường đủ để tìm ra nguồn.