Một kế hoạch tài chính cá nhân dùng được không cần dày: một trang với năm dòng số liệu mô tả bạn đang ở đâu, ba khoảng cách cần lấp, mức góp mỗi tháng cho từng khoảng cách và ngày cập nhật kế tiếp. Con số đầu tiên để bắt đầu là chi tiêu nền một tháng, tức số tiền tối thiểu để đời sống vẫn vận hành; gần như mọi phép tính sau đều dựa trên nó.
Bài này đi theo thứ tự lập trang kế hoạch đó. Kế hoạch ở đây không bàn đầu tư, bảo hiểm hay thuế; đó là những chủ đề riêng cần tìm hiểu kỹ và hỏi người có chuyên môn được cấp phép. Phạm vi là phần nền móng mà ai cũng làm được bằng giấy bút trong một buổi tối. Mọi con số là ví dụ giả định.
Vì sao bắt đầu từ chi tiêu nền chứ không từ thu nhập
Người lập kế hoạch lần đầu thường bắt đầu từ thu nhập: mình kiếm bao nhiêu, để dành được bao nhiêu. Cách đó bỏ sót câu hỏi quan trọng hơn: nếu thu nhập dừng lại, mình cần bao nhiêu để sống. Chi tiêu nền trả lời câu hỏi đó, và nó ổn định hơn thu nhập nhiều. Thu nhập có thể tăng, giảm, đứt đoạn; chi tiêu nền chỉ thay đổi khi đời sống thay đổi, như chuyển nhà, có con, cha mẹ cần chăm sóc.
Cách tính chi tiêu nền: lấy ba tháng chi tiêu gần nhất, với từng nhóm khoản, giữ lại phần tối thiểu để vẫn sống bình thường và bỏ phần tuỳ chọn. Tiền nhà, điện nước, ăn uống cơ bản, đi lại đi làm, khoản trả nợ bắt buộc, tiền đã hứa gửi gia đình, thuốc men thường xuyên. Ví dụ giả định: chi tiêu hằng tháng trung bình 12 triệu, sau khi bỏ phần tuỳ chọn còn 8,5 triệu. Đó là con số đầu tiên của trang kế hoạch.
Khi có con số này, nhiều câu hỏi trở nên cụ thể. Một khoản đệm an toàn bao nhiêu là đủ thì tính theo số tháng chi tiêu nền. Một khoản vay mới có làm đời sống quá chật không thì so với phần thu nhập còn lại sau chi tiêu nền. Một mức thu nhập thấp hơn khi đổi việc có sống được không thì đặt cạnh chi tiêu nền mà nhìn.
Năm dòng đầu trang: bạn đang ở đâu
Năm dòng dưới đây là ảnh chụp hiện trạng. Điền đúng con số của hôm nay, không điền con số mong muốn. Ví dụ giả định:
| Dòng | Định nghĩa ngắn | Ví dụ giả định |
|---|---|---|
| 1. Thu nhập về tay mỗi tháng | Trung bình ba tháng, sau khấu trừ; ghi thêm mức thấp nhất nếu thu nhập lên xuống | 15 triệu (thấp nhất 13 triệu) |
| 2. Chi tiêu nền mỗi tháng | Phần tối thiểu để đời sống vận hành | 8,5 triệu |
| 3. Thặng dư trung bình mỗi tháng | Tiền vào trừ tiền ra, trung bình ba đến sáu tháng | 1,8 triệu |
| 4. Tiền để riêng hiện có | Tiền có thể rút trong vài ngày, không kể tiền chi tiêu tháng này | 9 triệu |
| 5. Tổng nợ còn lại và khoản trả mỗi tháng | Mọi khoản vay, trả góp, nợ thẻ, nợ người quen | 18 triệu, trả 1,5 triệu mỗi tháng |
Dòng 3 thường thấp hơn nhiều so với hình dung, vì nó lấy chi tiêu thật chứ không lấy chi tiêu nền. Trong ví dụ, thu nhập 15 triệu, chi tiêu nền 8,5 triệu, nhưng thặng dư thật chỉ 1,8 triệu vì phần tuỳ chọn và các khoản lặt vặt. Khoảng cách giữa thu nhập trừ chi tiêu nền và thặng dư thật, ở đây là 4,7 triệu, chính là vùng bạn có quyền chọn lại.
Ba khoảng cách cần lấp, mỗi khoảng cách một con số đích
Từ năm dòng hiện trạng, kế hoạch đặt ra ba khoảng cách. Mỗi khoảng cách là hiệu giữa con số đích và con số hiện có, kèm một thời hạn. Chọn mục tiêu sống dài hạn là chuyện khác; ở đây chỉ là các đích nền móng có thể tính.
- Khoảng cách an toàn. Số tiền để riêng đủ trụ một số tháng chi tiêu nền mà bạn tự chọn, tuỳ độ ổn định thu nhập. Ví dụ giả định chọn bốn tháng: đích 34 triệu, hiện có 9 triệu, khoảng cách 25 triệu.
- Khoảng cách nợ. Tổng nợ muốn đưa về trong thời hạn đã chọn, thường là không đối với nợ tiêu dùng. Ví dụ: 18 triệu cần trả hết; với mức trả hiện tại 1,5 triệu mỗi tháng thì mất khoảng một năm, chưa tính lãi.
- Khoảng cách khoản lớn đã biết. Một khoản chi lớn sắp tới có thời điểm rõ: học phí, sửa nhà, đám cưới, mua xe thay chiếc đã cũ. Ví dụ: 12 triệu sau 18 tháng.
Ba khoảng cách này nên được viết thành ba dòng tiếp theo trên trang, mỗi dòng có số đích, số hiện có, khoảng cách và thời hạn. Giới hạn ở ba là cố ý: nhiều đích hơn sẽ chia mỏng phần thặng dư và khó thấy tiến bộ ở đâu.
Tính mức góp mỗi tháng và kiểm tính khả thi
Đây là bước biến kế hoạch thành việc làm. Phép tính đơn giản nhưng nhiều người bỏ qua bước kiểm tổng, rồi lập ra một kế hoạch mà ngay tháng đầu đã không thể thực hiện.
- Với mỗi khoảng cách, chia số tiền còn thiếu cho số tháng của thời hạn. Ví dụ: an toàn 25 triệu trong 24 tháng, khoảng 1,05 triệu mỗi tháng; khoản lớn 12 triệu trong 18 tháng, khoảng 0,67 triệu mỗi tháng. Nợ đã có mức trả 1,5 triệu nằm sẵn trong chi tiêu.
- Cộng các mức góp mới: 1,05 cộng 0,67 bằng khoảng 1,72 triệu mỗi tháng.
- So với thặng dư trung bình ở dòng 3, ở đây là 1,8 triệu. Tổng góp nhỏ hơn thặng dư thì kế hoạch khả thi về mặt số học, dù còn rất ít khoảng trống.
- Nếu tổng góp lớn hơn thặng dư, chọn một trong ba cách: kéo dài thời hạn của một khoảng cách, giảm con số đích, hoặc lấy thêm từ vùng chi tiêu tuỳ chọn. Viết rõ cách đã chọn.
- Xếp thứ tự ưu tiên khi tháng chật: thường an toàn đến trước khi đệm còn quá mỏng, sau đó là nợ có chi phí cao, rồi tới khoản lớn. Thứ tự này là của bạn, nhưng phải viết ra trước.
Kế hoạch trong ví dụ khả thi nhưng sát nút; một tháng bất ngờ là trượt. Một lựa chọn thực tế là kéo khoản lớn thêm vài tháng để có khoảng trống. Kế hoạch có khoảng trống thường sống lâu hơn kế hoạch tối ưu trên giấy.
Nhịp cập nhật: mỗi quý một lần, chỉ sửa con số
Trang kế hoạch không cần mở mỗi tuần. Ngân sách tháng và ba con số kiểm tiền lo phần theo dõi hằng tháng; trang kế hoạch chỉ được cập nhật mỗi quý. Trong buổi cập nhật, điền lại năm dòng hiện trạng bằng số thật của quý vừa qua, tính lại ba khoảng cách, và so mức tiến bộ với mức góp dự kiến.
Câu hỏi chính của buổi cập nhật là: khoảng cách nào đã thu hẹp đúng nhịp, khoảng cách nào chậm, và vì sao. Ví dụ giả định sau một quý, khoảng cách an toàn giảm 2,8 triệu thay vì 3,15 triệu dự kiến, do có một tháng phải rút ra sửa xe. Chậm một chút là bình thường; điều cần ghi là nguyên nhân có lặp lại không, và nếu có thì bổ sung một dòng cho bảo dưỡng xe trong ngân sách.
Khi đời sống thay đổi lớn, như đổi việc, chuyển nhà, kết hôn, có con, hãy lập lại trang từ dòng một thay vì sửa vá. Mất một buổi tối nhưng tránh được việc giữ một kế hoạch đã không còn khớp với đời sống.
Ví dụ giả định: trang kế hoạch sau bốn quý
Bảng dưới theo dõi ba khoảng cách của ví dụ trong một năm, mỗi cột là số liệu tại buổi cập nhật cuối quý, đơn vị triệu đồng. Kế hoạch ban đầu dự kiến khoảng cách an toàn giảm khoảng 3,15 triệu mỗi quý.
| Chỉ số | Đầu năm | Quý 1 | Quý 2 | Quý 3 | Quý 4 |
|---|---|---|---|---|---|
| Khoảng cách an toàn còn lại | 25,0 | 22,2 | 19,0 | 16,1 | 12,8 |
| Nợ còn lại | 18,0 | 13,9 | 9,7 | 5,4 | 1,0 |
| Khoảng cách khoản lớn còn lại | 12,0 | 10,0 | 8,0 | 6,0 | 4,0 |
| Chi tiêu nền mỗi tháng | 8,5 | 8,5 | 8,8 | 8,8 | 8,8 |
| Thặng dư trung bình mỗi tháng | 1,8 | 1,6 | 1,9 | 1,9 | 2,0 |
Ba điều đọc được từ bảng. Thứ nhất, khoảng cách an toàn giảm 12,2 triệu sau một năm, chậm hơn mức 12,6 triệu dự kiến một chút, chủ yếu vì quý 1. Thứ hai, chi tiêu nền tăng từ 8,5 lên 8,8 triệu ở quý 2, nên đích an toàn bốn tháng cũng phải nâng lên khoảng 35,2 triệu; khoảng cách thật vì thế lớn hơn con số trong bảng khoảng 1,2 triệu. Đây là lý do mỗi quý phải tính lại đích chứ không chỉ trừ dần. Thứ ba, khi nợ gần hết ở quý 4, mức trả 1,5 triệu mỗi tháng được giải phóng; buổi cập nhật đầu năm sau nên quyết định ngay khoản này chuyển sang đâu, trước khi nó tự tan vào chi tiêu.
Kế hoạch này không gồm gì, và giới hạn của nó
Trang kế hoạch một trang cố ý bỏ ra ngoài các quyết định đầu tư, bảo hiểm và thuế. Đó là những chủ đề có hệ quả dài, cần thông tin cập nhật và thường cần người có chuyên môn được cấp phép. Kế hoạch này chỉ đảm bảo phần nền: bạn biết mình cần bao nhiêu để sống, có một khoản đệm, nợ đang giảm và các khoản lớn đã biết có chỗ chuẩn bị.
Các con số trong kế hoạch đều là giả định: thu nhập giữ nguyên, chi tiêu nền không đổi, không có biến cố lớn. Đời sống hiếm khi đi đúng như thế. Giá trị của kế hoạch không nằm ở việc đoán đúng mà ở việc khi có chuyện xảy ra, bạn biết ngay nó ảnh hưởng đến khoảng cách nào và cần điều chỉnh chỗ nào.
Cũng đừng để kế hoạch thành một bảng điểm tự chấm mỗi quý. Các khoảng cách là công cụ để quyết định, không phải thước đo giá trị con người. Một quý chậm vì chăm người thân ốm là một quý bạn đã dùng tiền đúng chỗ.
Câu hỏi thường gặp
Chưa từng ghi chép chi tiêu thì tính chi tiêu nền thế nào?
Ước lượng từ các khoản cố định đã biết như tiền nhà, điện nước, trả nợ, cộng một con số ăn uống và đi lại tối thiểu theo trí nhớ. Sau đó ghi ba con số kiểm tiền trong hai ba tháng để chỉnh lại. Con số ước lượng ban đầu vẫn tốt hơn không có con số.
Bao nhiêu tháng chi tiêu nền là đủ cho khoản đệm an toàn?
Không có con số chung. Người có thu nhập ổn định, ít người phụ thuộc có thể chọn mức thấp hơn; người làm tự do, thu nhập theo mùa hoặc là trụ cột duy nhất thường chọn cao hơn. Điều quan trọng là tự chọn có lý do và viết ra lý do đó.
Có nên đưa mục tiêu mua nhà vào ba khoảng cách không?
Nếu đã có thời điểm và con số cụ thể, có thể đưa vào như một khoản lớn. Nhưng mua nhà kéo theo nhiều quyết định về vay, giá trị tài sản và chi phí dài hạn, nên cần tìm hiểu riêng. Trang kế hoạch chỉ ghi phần tiền cần chuẩn bị có kỳ hạn.
Kế hoạch tài chính cá nhân khác ngân sách hằng tháng ở chỗ nào?
Ngân sách trả lời tháng này tiền đi đâu; kế hoạch trả lời một hai năm tới mình cần đi tới đâu và mỗi tháng góp bao nhiêu để tới đó. Ngân sách là công cụ thực hiện kế hoạch: mức góp mỗi tháng trong kế hoạch trở thành một dòng chi trong ngân sách.
Thặng dư quá nhỏ, không đủ góp cho cả ba khoảng cách thì sao?
Ưu tiên khoảng cách an toàn trước nếu đệm còn mỏng, giữ đúng lịch trả nợ, và kéo dài thời hạn khoản lớn. Đồng thời xem lại vùng chi tiêu tuỳ chọn và cả phía thu nhập. Kế hoạch chậm nhưng thật vẫn tốt hơn kế hoạch nhanh mà không làm được.