Chi phí thật của một món đồ theo năm dùng bằng tổng mọi khoản bạn chi cho nó trong suốt thời gian sở hữu, gồm giá mua, chi phí vận hành, sửa chữa và chi phí trả góp nếu có, trừ đi số tiền bán lại được, rồi chia cho số năm dùng. Con số này thường khác xa giá mua, và nó cho phép so hai món đồ có giá, độ bền và chi phí dùng khác nhau trên cùng một thước.
Bài này đưa ra công thức, hai ví dụ giả định, cách tính chi phí mỗi lần dùng cho những món ít dùng, danh sách chi phí hay bị quên, và giới hạn của phép tính. Bài không phán món nào đắt hay rẻ; cùng một con số có thể đáng hoặc không đáng tuỳ người dùng. Mọi số liệu là ví dụ giả định, không phải giá thị trường.
Công thức và vì sao giá mua là con số dễ đánh lừa nhất
Công thức: chi phí thật mỗi năm bằng giá mua cộng tổng chi phí vận hành cộng tổng sửa chữa cộng chi phí vay nếu trả góp, trừ giá bán lại cuối kỳ, tất cả chia cho số năm dùng. Mỗi thành phần đều ước được với độ chính xác vừa đủ, và độ chính xác vừa đủ là tất cả những gì bạn cần để so hai lựa chọn.
Giá mua là con số dễ thấy nhất và là con số người bán nhấn mạnh nhất, nên nó chiếm gần hết sự chú ý khi quyết định. Nhưng với nhiều món đồ, giá mua chỉ là một phần. Một chiếc xe máy có chi phí xăng, bảo dưỡng, gửi xe, bảo hiểm cộng lại qua năm năm có thể bằng hoặc hơn giá mua. Một chiếc máy in rẻ có thể tốn mực gấp nhiều lần giá máy. Một món đồ giảm giá sâu mà hỏng sau một năm có chi phí thật mỗi năm cao hơn món đắt hơn dùng được năm năm.
Mặt khác của công thức là giá bán lại. Hai món cùng giá mua, một món giữ giá tốt, một món mất giá gần hết khi ra khỏi cửa hàng, có chi phí thật rất khác nhau. Giá bán lại khó ước, nên dùng mức thận trọng; nếu không biết, coi là không và xem phần bán được là phần thưởng.
Ví dụ một: xe máy đi làm trong năm năm
Ví dụ giả định cho hai lựa chọn xe máy đi làm, quãng đường như nhau. Đơn vị triệu đồng, tổng năm năm.
| Thành phần | Xe A (giá mua thấp hơn) | Xe B (giá mua cao hơn) |
|---|---|---|
| Giá mua | 22 | 35 |
| Nhiên liệu năm năm | 25 | 19 |
| Bảo dưỡng, thay thế định kỳ | 9 | 7 |
| Sửa chữa ngoài định kỳ (ước) | 5 | 3 |
| Bảo hiểm, giấy tờ, gửi xe | 8 | 8 |
| Chi phí trả góp | 0 | 3 (trả góp 12 tháng) |
| Trừ giá bán lại sau năm năm (thận trọng) | −6 | −12 |
| Tổng chi phí thật năm năm | 63 | 63 |
| Chi phí thật mỗi năm | Khoảng 12,6 | Khoảng 12,6 |
Trong ví dụ này, hai xe cùng một chi phí thật dù giá mua chênh 13 triệu. Xe B tốn ít nhiên liệu hơn và giữ giá tốt hơn, bù gần hết phần giá cao và cả chi phí trả góp. Điều đó không có nghĩa xe B luôn "đáng" hơn: nếu phải vay mới mua được xe B, khoản trả góp làm ngân sách hằng tháng cứng hơn, và nếu bạn chỉ dùng hai năm thì phép tính đổi hẳn.
Con số ước cho nhiên liệu, sửa chữa, giá bán lại đều có sai số. Khi hai lựa chọn ra gần bằng nhau như ví dụ, kết luận đúng là "về tiền, hai lựa chọn tương đương", và quyết định nên dựa vào những thứ khác như độ an toàn, sự thoải mái, khả năng trả mà không phải vay.
Ví dụ hai: món rẻ hỏng sớm và món bền hơn
So hai chiếc máy xay sinh tố dùng hằng ngày cho cả nhà, ví dụ giả định, đơn vị nghìn đồng:
| Chỉ số | Máy rẻ | Máy bền hơn |
|---|---|---|
| Giá mua | 450 | 1.300 |
| Tuổi thọ ước tính | 1,5 năm | 6 năm |
| Sửa, thay lưỡi trong tuổi thọ | 0 | 200 |
| Giá bán lại | 0 | 0 |
| Chi phí mỗi năm | Khoảng 300 | Khoảng 250 |
Máy bền hơn đắt gấp gần ba lần lúc mua nhưng rẻ hơn mỗi năm, nếu nó thật sự bền như ước tính. Hai chữ "nếu thật sự" là chỗ yếu của phép tính: tuổi thọ là ước lượng, và một món đắt không tự động bền. Cách giảm rủi ro là dựa vào thời hạn bảo hành, kinh nghiệm của người đã dùng lâu, và lịch sử của chính đồ dùng trong nhà bạn.
Phép so này cũng giả định bạn sẽ dùng hết tuổi thọ. Với đồ công nghệ thay đổi nhanh, nhiều người thay trước khi hỏng, nên tuổi thọ thật là thời gian bạn sẽ dùng, không phải thời gian món đồ chịu được.
Chi phí mỗi lần dùng: thước đo cho món ít dùng
Với những món không dùng hằng ngày, chi phí mỗi năm chưa đủ; cần chia tiếp cho số lần dùng. Chi phí mỗi lần dùng bằng chi phí thật mỗi năm chia số lần dùng mỗi năm. Con số này rất hữu ích cho câu hỏi "mua hay thuê, mua hay mượn".
Ví dụ giả định: một chiếc lều cắm trại giá 2,4 triệu, dùng được năm năm, không bán lại, chi phí mỗi năm khoảng 480 nghìn. Nếu cả nhà đi cắm trại hai lần một năm, chi phí mỗi lần dùng là 240 nghìn. Nếu thuê lều mỗi lần khoảng 200 nghìn, thuê rẻ hơn một chút và không tốn chỗ cất. Nếu đi sáu lần một năm, chi phí mỗi lần dùng còn 80 nghìn, mua rõ ràng có lợi hơn.
Bẫy của thước đo này là tự đánh giá quá cao số lần sẽ dùng. Lúc mua, ai cũng tin mình sẽ dùng thường xuyên. Cách kiểm là nhìn lại một món tương tự bạn đã mua trước đây: thật sự dùng bao nhiêu lần trong năm đầu? Nếu không có món tương tự, thuê hoặc mượn vài lần trước khi mua là cách đo số lần dùng thật rẻ nhất.
Những chi phí hay bị quên khi tính
Ngoài các thành phần chính, có vài loại chi phí ít được nghĩ tới nhưng có thể làm thay đổi kết quả so sánh:
- Phụ kiện và vật tư đi kèm: mực in, lõi lọc, dây sạc thay thế, túi đựng. Với một số món, vật tư cả đời dùng vượt giá máy.
- Chỗ cất: trong nhà chật, một món cồng kềnh chiếm chỗ của thứ khác. Không có giá cụ thể, nhưng nên ghi vào cột cân nhắc.
- Thời gian: thời gian bảo dưỡng, mang đi sửa, học cách dùng. Món tiết kiệm tiền mà tốn nhiều giờ có thể không rẻ khi tính theo giá giờ của bạn.
- Chi phí kéo theo: mua một chiếc máy pha cà phê kéo theo cà phê hạt đắt hơn; mua xe lớn hơn kéo theo chỗ gửi đắt hơn. Hỏi "món này kéo theo những khoản chi đều đặn nào".
- Chi phí bỏ đi: phí thu gom, chi phí vứt bỏ đúng cách cho đồ điện tử, đồ lớn. Thường nhỏ, nhưng có.
Không cần đưa hết vào công thức. Ghi chúng ở một cột bên cạnh, và khi hai lựa chọn có chi phí thật gần nhau, cột này thường là thứ quyết định.
Đưa chi phí thật vào ngân sách: từ một lần mua thành một dòng mỗi tháng
Phép tính chi phí thật không chỉ dùng lúc chọn mua. Sau khi mua, nó trở thành một dòng trong ngân sách mà hầu hết mọi người không có: khoản góp thay thế. Nếu xe A trong ví dụ có chi phí thật khoảng 12,6 triệu mỗi năm, trong đó phần khấu hao, tức giá mua trừ giá bán lại chia số năm, khoảng 3,2 triệu, thì mỗi tháng nên có khoảng 270 nghìn đi vào quỹ khoản theo năm cho lần thay xe sau. Phần nhiên liệu, bảo dưỡng, gửi xe đã nằm sẵn trong chi tiêu hằng tháng.
Làm điều này cho ba bốn món lớn nhất trong nhà, như xe, máy tính làm việc, điện thoại, tủ lạnh, bạn sẽ có một con số tổng cho biết chi phí thật của việc duy trì đồ dùng mà ngân sách tháng thường bỏ qua. Ví dụ giả định, con số đó có thể là 600 đến 800 nghìn mỗi tháng với một người đi làm. Không góp, khoản này vẫn tồn tại; chỉ là nó sẽ đến cùng một lúc vào tháng món đồ hỏng.
Một lợi ích nữa: khi đã thấy chi phí thật mỗi tháng của món đang dùng, quyết định thay mới trở nên rõ hơn. Thay một chiếc điện thoại còn tốt sau một năm nghĩa là kéo chi phí thật mỗi năm lên gấp đôi hoặc gấp ba; câu hỏi không còn là "có đủ tiền không" mà là "có đáng gấp đôi không".
Giới hạn: không phải mọi giá trị đều chia được theo năm
Công thức chi phí thật đo tiền, không đo niềm vui, sự an toàn hay ý nghĩa. Một chiếc xe đạp cũ mua lại từ người thân, một món đồ dùng mỗi ngày mang lại cảm giác dễ chịu, một chiếc mũ bảo hiểm tốt hơn: những thứ đó có giá trị mà bảng tính không thấy. Phép tính giúp bạn biết cái giá bằng tiền của lựa chọn, còn chọn hay không là chuyện giá trị của bạn.
Phép tính cũng có thể bị dùng ngược để biện minh. Khi đã muốn một món đắt, ta dễ ước tuổi thọ dài hơn, giá bán lại cao hơn, số lần dùng nhiều hơn. Cách giữ trung thực là ước các con số trước khi nhìn giá, hoặc nhờ một người không có cảm xúc với món đồ ước giúp.
Cuối cùng, chi phí thật mỗi năm thấp hơn không có nghĩa nên mua ngay. Một món bền hơn mà phải vay hoặc phải rút khoản đệm mới mua được có thể làm tài chính yếu đi trong ngắn hạn, dù rẻ hơn về dài hạn. Khả năng trả hôm nay vẫn là điều kiện đầu tiên.
Câu hỏi thường gặp
Làm sao ước giá bán lại khi chưa từng bán đồ cũ?
Xem giá rao bán của món tương tự cùng tuổi ở các nơi mua bán đồ cũ, rồi lấy mức thấp hơn khoảng một phần năm đến một phần tư, vì giá rao thường cao hơn giá bán thật. Nếu vẫn không chắc, coi giá bán lại bằng không; phép so sẽ thận trọng hơn.
Có nên tính chi phí thật cho cả những món nhỏ không?
Không cần. Phép tính đáng làm với món có giá trị đáng kể so với thu nhập, món có chi phí dùng đều đặn, hoặc món bạn đang phân vân giữa vài lựa chọn. Với đồ nhỏ, thời gian tính tốn hơn số tiền có thể tiết kiệm.
Mua trả góp thì tính chi phí thật thế nào?
Cộng thêm chi phí vay, tức tổng phải trả trừ giá trả thẳng, vào chi phí thật. Đồng thời nhớ rằng khoản trả góp làm ngân sách hằng tháng cứng hơn. Hai món có chi phí thật bằng nhau, món phải trả góp vẫn có thêm rủi ro khi thu nhập giảm.
Chi phí mỗi lần dùng bao nhiêu thì nên thuê thay vì mua?
Không có ngưỡng chung. So chi phí mỗi lần dùng nếu mua với giá thuê mỗi lần, cộng thêm sự tiện lợi và chỗ cất. Nếu hai con số gần nhau, thuê vài lần trước để biết số lần dùng thật rồi mới quyết là cách ít rủi ro nhất.
Món đắt hơn có phải luôn bền hơn không?
Không. Giá cao có thể do thương hiệu, thiết kế hay tính năng không liên quan đến độ bền. Thời hạn bảo hành, kinh nghiệm của người đã dùng nhiều năm và lịch sử đồ dùng tương tự trong nhà bạn là những chỉ báo tốt hơn giá bán.