Chi phí cố định là các khoản bạn đã cam kết trả và không thể cắt ngay trong tháng, như tiền thuê nhà, trả góp, học phí; chi phí linh hoạt là các khoản bạn có thể tăng giảm theo quyết định của mình trong vài ngày, như ăn ngoài, mua sắm, giải trí. Tách hai nhóm này cho bạn một con số rất thực dụng: nếu tháng sau thu nhập giảm, trong 30 ngày bạn thật sự cắt được bao nhiêu tiền.
Nhiều người phân loại theo cảm tính và chỉ dựa vào việc số tiền có đều hay không. Bài này dùng hai trục, chỉ ra vì sao một khoản đều đặn vẫn có thể linh hoạt và một khoản thất thường vẫn có thể là cam kết, rồi đi tới chỉ số độ cứng của ngân sách và bảng cắt giảm theo thời gian. Số liệu là ví dụ giả định.
Hai trục để phân loại: độ đều và độ cam kết
Độ đều nói về số tiền. Khoản đều là khoản mỗi tháng gần như bằng nhau: tiền thuê nhà, trả góp, internet. Khoản biến đổi là khoản lên xuống: tiền điện mùa nóng, đi chợ, xăng xe. Trục này cho biết dự báo dễ hay khó, nhưng không cho biết cắt được hay không.
Độ cam kết nói về khả năng thay đổi. Khoản cam kết là khoản bạn đã ràng buộc bằng hợp đồng, lời hứa hoặc nhu cầu sống còn: thuê nhà theo hợp đồng sáu tháng, trả góp, tiền đã hứa gửi cha mẹ, thuốc điều trị. Khoản tuỳ ý là khoản bạn đổi được bằng quyết định của riêng mình trong vài ngày.
Ghép hai trục ra bốn ô. Một khoản có thể đều mà tuỳ ý, như gói tập thể dục trả theo tháng huỷ được bất cứ lúc nào. Một khoản có thể biến đổi mà cam kết, như tiền điện nước: số tiền lên xuống nhưng bạn không thể không trả. Khi nói "chi phí cố định" trong ngân sách cá nhân, điều thật sự cần biết là trục cam kết, vì nó quyết định bạn xoay xở được bao nhiêu.
Thời gian gỡ là thông tin thứ ba. Khoản cam kết nào cũng có một thời gian gỡ: hết hợp đồng thuê là ba tháng nữa, trả góp còn mười tháng, chuyển con sang lớp khác phải đợi hết học kỳ. Ghi thời gian gỡ cạnh mỗi khoản cam kết biến danh sách tĩnh thành một lịch các lựa chọn.
Bảng bốn ô với ví dụ giả định
Ví dụ giả định cho một người thu nhập về tay 16 triệu mỗi tháng. Số tiền là trung bình một tháng, đơn vị triệu đồng.
| Ô | Khoản ví dụ | Số tiền | Thời gian gỡ |
|---|---|---|---|
| Đều và cam kết | Thuê nhà; trả góp điện thoại; gửi cha mẹ | 4,0; 0,8; 1,5 | 3 tháng; 7 tháng; không tính gỡ |
| Biến đổi và cam kết | Điện nước; đi chợ phần cơ bản; xăng đi làm | 0,9; 2,5; 0,6 | Giảm được ít, không bỏ được |
| Đều và tuỳ ý | Gói tập thể dục tháng; gói xem phim; cà phê sáng | 0,5; 0,2; 0,6 | Vài ngày đến một tháng |
| Biến đổi và tuỳ ý | Ăn ngoài; mua sắm; gặp gỡ; quà | 1,8; 1,2; 0,7; 0,4 | Ngay lập tức |
Cộng lại: nhóm cam kết (hai ô trên) là 10,3 triệu; nhóm tuỳ ý (hai ô dưới) là 5,4 triệu; phần còn lại 0,3 triệu là thặng dư. Con số 10,3 triệu trên thu nhập 16 triệu, khoảng 64 phần trăm, là độ cứng của ngân sách này.
Tỷ lệ cam kết trên thu nhập: chỉ số độ cứng của ngân sách
Chia tổng các khoản cam kết cho thu nhập về tay, bạn được một tỷ lệ cho biết bao nhiêu phần thu nhập đã được "định sẵn" trước khi tháng bắt đầu. Tỷ lệ này không có ngưỡng chuẩn chung, nhưng ý nghĩa của nó rất rõ: tỷ lệ càng cao, ngân sách càng cứng, và một cú giảm thu nhập càng nhanh chuyển thành thiếu hụt.
Trong ví dụ, độ cứng khoảng 64 phần trăm. Nếu thu nhập giảm một phần năm, từ 16 xuống 12,8 triệu, các khoản cam kết vẫn là 10,3 triệu, chỉ còn 2,5 triệu cho phần tuỳ ý vốn đang là 5,4 triệu. Phải cắt gần 2,9 triệu trong nhóm tuỳ ý, hơn một nửa, và thặng dư về không. Với một ngân sách có độ cứng 50 phần trăm, cùng cú giảm đó sẽ dễ chịu hơn nhiều.
Theo dõi tỷ lệ này mỗi quý giúp nhận ra một xu hướng hay gặp: độ cứng tăng dần mà không ai quyết định. Thêm một khoản trả góp, chuyển sang căn hộ đắt hơn một chút, đăng ký thêm một lớp học cho con trả theo năm. Mỗi quyết định đều hợp lý, nhưng cộng lại thì ngân sách mất dần khả năng chịu cú sốc. Chỉ số độ cứng là thứ làm hiện ra cái xu hướng mà từng quyết định đơn lẻ không cho thấy.
Tính số tiền thật sự cắt được trong 30 ngày và 90 ngày
Khi biết trước một tháng khó sắp đến, hoặc muốn chuẩn bị cho tình huống đó, làm phép tính sau bằng bảng bốn ô:
- Với ô biến đổi và tuỳ ý, ước số có thể cắt ngay mà không ảnh hưởng điều thiết yếu. Ví dụ: ăn ngoài giảm từ 1,8 xuống 0,8 triệu, mua sắm từ 1,2 xuống 0,3, gặp gỡ và quà từ 1,1 xuống 0,5. Cắt được khoảng 2,5 triệu.
- Với ô đều và tuỳ ý, xem khoản nào huỷ được trong tháng. Gói tập và gói phim huỷ ngay, cà phê sáng đổi sang pha ở nhà. Cắt thêm khoảng 1 triệu.
- Cộng hai bước trên ra số cắt được trong 30 ngày: khoảng 3,5 triệu.
- Với ô cam kết, xem khoản nào có thời gian gỡ dưới ba tháng và có phương án thay thế. Ví dụ hợp đồng thuê hết sau ba tháng, có thể chuyển phòng rẻ hơn 1 triệu. Đó là số cắt thêm trong 90 ngày.
- Ô biến đổi và cam kết thường chỉ giảm được một phần nhỏ, ví dụ tiết kiệm điện, nấu ăn đơn giản hơn: thêm khoảng 0,4 triệu, nhưng tính dè dặt.
Kết quả của ví dụ: trong 30 ngày cắt được khoảng 3,5 triệu, trong 90 ngày khoảng 4,9 triệu. Đặt hai con số này cạnh cú giảm thu nhập dự kiến, bạn biết ngay mình tự xoay được hay cần dùng đến khoản đệm, và trong bao lâu. Đây là phép tính nên làm khi đang bình thường, không phải lúc đã thiếu tiền.
Khi nào một khoản linh hoạt bị biến thành cam kết
Độ cứng tăng chủ yếu qua những lần ta tự nguyện đổi một khoản tuỳ ý thành một cam kết. Không phải lúc nào điều đó cũng xấu; nhiều khi cam kết đổi lấy giá rẻ hơn hoặc sự tiện lợi. Nhưng mỗi lần như vậy nên tự hỏi rõ:
- Mua trả góp thay vì trả một lần. Món đồ trở thành một khoản đều và cam kết nhiều tháng. Câu cần hỏi: tổng phải trả là bao nhiêu, và nếu thu nhập giảm giữa chừng thì khoản này có làm ngân sách vỡ không.
- Đóng theo năm để được giảm giá. Gói học, gói tập, gói dịch vụ đóng một lần cho cả năm thường rẻ hơn tính theo tháng, nhưng tiền đã đi rồi thì không lấy lại được nếu bạn bỏ giữa chừng. Giá rẻ hơn chỉ có ý nghĩa khi xác suất dùng hết năm đủ cao.
- Ký hợp đồng thuê dài hơn. Đổi lấy giá ổn định nhưng kéo dài thời gian gỡ. Ghi rõ điều khoản chấm dứt sớm và phí kèm theo.
- Hứa hẹn chi đều cho người khác. Gửi tiền đều cho gia đình, góp quỹ nhóm hằng tháng là cam kết có giá trị lớn. Không nên cắt nhẹ dạ, nhưng nên tính nó vào độ cứng một cách trung thực.
Một thói quen đơn giản: mỗi khi ký một cam kết mới, tính lại độ cứng ngay trên giấy. Nếu con số vượt một ngưỡng bạn tự đặt, ví dụ 70 phần trăm, cân nhắc thêm một lần trước khi ký.
Hai người cùng thu nhập, hai mức độ cứng
Để thấy chỉ số độ cứng nói gì mà tổng chi tiêu không nói, so hai ví dụ giả định. Cả hai cùng thu nhập về tay 16 triệu, cùng tiêu 15,7 triệu mỗi tháng, cùng thặng dư 0,3 triệu. Chỉ khác cách tiêu.
| Chỉ số | Người A | Người B |
|---|---|---|
| Khoản cam kết mỗi tháng | 10,3 triệu (thuê nhà, trả góp, gửi cha mẹ, điện nước, ăn cơ bản) | 7,5 triệu (ở phòng rẻ hơn, không trả góp) |
| Khoản tuỳ ý mỗi tháng | 5,4 triệu | 8,2 triệu (ăn ngoài, du lịch, mua sắm nhiều hơn) |
| Độ cứng | Khoảng 64% | Khoảng 47% |
| Thu nhập giảm còn 12,8 triệu: phần tuỳ ý còn lại | 2,5 triệu, phải cắt hơn một nửa | 5,3 triệu, cắt khoảng một phần ba |
| Thời gian gỡ khoản cam kết lớn nhất | 3 tháng (hết hợp đồng thuê) | 1 tháng |
Nhìn tổng chi tiêu, hai người giống hệt nhau. Nhìn độ cứng, người B chịu cú giảm thu nhập dễ hơn nhiều, dù đang tiêu tuỳ ý nhiều hơn và có thể bị nhận xét là "tiêu hoang". Người A trông tiết kiệm hơn trên bề mặt nhưng ngân sách mỏng manh hơn trước biến cố. Không ai đúng ai sai; mỗi người đang đổi một thứ lấy một thứ khác, và chỉ số độ cứng giúp họ biết mình đang đổi gì.
Giới hạn của việc phân loại
Phân loại cố định và linh hoạt luôn có vùng xám. Ăn uống vừa là nhu cầu thiết yếu vừa có phần tuỳ ý; chi cho con học thêm là tuỳ ý trên giấy nhưng trong nhiều gia đình là ưu tiên không bàn cãi. Đừng mất thời gian tranh luận một khoản thuộc ô nào. Khi phân vân, tách nó ra hai phần: phần nền vào ô cam kết, phần trên mức nền vào ô tuỳ ý.
Cũng cần nhớ rằng con số cắt được trên giấy và con số cắt được trong đời sống khác nhau. Cắt hết mọi khoản gặp gỡ trong ba tháng có thể ghi được trên bảng, nhưng cái giá về quan hệ và tinh thần không hiện trong cột số. Khi tính khả năng cắt giảm, nên giữ lại một phần nhỏ cho những thứ giữ bạn ổn định, vì một ngân sách ép quá chặt thường vỡ nhanh hơn ngân sách có chút khoảng thở.
Cuối cùng, độ cứng không xấu tự thân. Một người có độ cứng cao vì đang trả góp căn nhà để ở, hoặc vì đang nuôi cha mẹ, có thể hoàn toàn yên tâm về lựa chọn của mình. Chỉ số này để biết mình chịu được cú sốc đến đâu, không phải để phán ai chi tiêu đúng hay sai.
Câu hỏi thường gặp
Tiền ăn uống là chi phí cố định hay linh hoạt?
Cả hai. Phần ăn uống cơ bản ở nhà là cam kết, vì không thể không ăn; phần ăn ngoài, đồ uống, đặt đồ ăn là tuỳ ý. Tách thành hai dòng trong ngân sách giúp bạn biết thật sự có bao nhiêu để điều chỉnh khi cần.
Khoản trả góp đã gần hết có còn tính vào độ cứng không?
Tính cho tới tháng cuối cùng phải trả. Nhưng nên ghi thời gian gỡ còn lại cạnh nó, vì một khoản còn hai tháng có ý nghĩa rất khác một khoản còn hai năm khi bạn lên kế hoạch cho cú giảm thu nhập.
Độ cứng bao nhiêu phần trăm thì nên lo?
Không có ngưỡng chung. Cách đọc hữu ích hơn là thử giảm thu nhập một phần năm trên giấy và xem phần tuỳ ý còn đủ không. Nếu không đủ ngay cả khi cắt gần hết phần tuỳ ý, ngân sách đang quá cứng so với độ ổn định thu nhập của bạn.
Có nên huỷ hết các gói đăng ký để giảm chi phí cố định?
Chỉ huỷ những gói ít dùng. Các gói trả theo tháng huỷ được thực ra là khoản tuỳ ý, không làm ngân sách cứng thêm. Việc cần làm là rà mỗi quý xem gói nào đã lâu không dùng, chứ không phải cắt hàng loạt.
Người làm tự do phân loại chi phí công việc vào đâu?
Nên tách chi phí công việc khỏi ngân sách cá nhân, rồi mới phân loại trong từng phần. Trong ngân sách cá nhân, khoản tự trả lương cho mình đóng vai trò thu nhập. Bài về tiền của người tự kinh doanh trên trang này nói kỹ hơn cách tách.